Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Nhìn mờ ở trẻ, coi chừng nhược thị!

Thông thường, khi thấy con kêu nhìn mờ hay phát hiện thấy con ngồi gần màn hình khi xem tivi hoặc ở lớp, trẻ không nhìn rõ bảng, các bậc phụ huynh mới đưa con đi khám mắt… Và khi đến bác sĩ khám thì mới phát hiện ra trẻ có tật khúc xạ nào đó. Nhưng thật đáng tiếc, khi đó, thường thị lực của trẻ đã bị suy giảm đáng kể, trong rất nhiều trường hợp, ngoài tật khúc xạ mắt, trẻ còn bị thêm chứng nhược thị.   

Thế nào là bị nhược thị?

Nhược thị được định nghĩa là sự suy giảm thị lực do võng mạc không được kích thích hoặc có sự tương tác bất thường về chức năng thị giác hai mắt mà không phát hiện được nguyên nhân thực thể bằng phương pháp thăm khám. Nói cách khác, nhược thị là sự suy giảm thị lực ở một hoặc cả hai mắt mà không kèm theo tổn thương nhìn thấy được ở mắt.

Các nguyên nhân dẫn đến nhược thị

Bệnh nhược thị do nhiều nguyên nhân khác nhau:

Nhược thị do lác: Là hình thái nhược thị phổ biến nhất.

Nhược thị do tật khúc xạ: Tật khúc xạ cũng là một nguyên nhân phổ biến gây nhược thị. Tật khúc xạ bao gồm cận thị, viễn thị, loạn thị và lệch khúc xạ (độ khúc xạ ở hai mắt không bằng nhau). Trong trường hợp tật khúc xạ cao, võng mạc sẽ không nhận được hình ảnh rõ nét làm cho thị lực phát triển bất thường gây nhược thị.

Nhược thị do võng mạc không được kích thích: Trong trường hợp này, võng mạc có thể không nhận được kích thích gì vì có sự cản trở đường đi của ánh sáng tới võng mạc gây ra nhược thị. Loại nhược thị này hay gặp trong sụp mi bẩm sinh, đục thủy tinh thể bẩm sinh, sẹo giác mạc...

Phương pháp điều trị

Bệnh nhân có thể bị nhược thị do một hoặc nhiều nguyên nhân phối hợp. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh, bác sĩ có thể áp dụng nhiều phương pháp điều trị nhược thị khác nhau. Nếu bị nhược thị do tật khúc xạ hoặc có phối hợp với nguyên nhân do tật khúc xạ, phương pháp điều trị là điều chỉnh tật khúc xạ.

Nhìn mờ ở trẻ, coi chừng nhược thị! 1
Điều trị cho trẻ nhược thị trên máy.

Phương pháp bịt mắt: Trong các phương pháp điều trị cho bệnh nhân nhược thị, phương pháp bịt mắt được coi là phương pháp kinh điển phổ biến, đạt hiệu quả cao và dễ thực hiện nhất. Cho đến nay, bịt mắt vẫn là sự lựa chọn tối ưu và hiệu quả trong điều trị nhược thị...

Phương pháp gia phạt quang học: Là phương pháp đặc biệt tác dụng tốt đối với các trường hợp nhẹ và trung bình, những trường hợp bịt mắt thất bại và những trường hợp cần điều trị duy trì...

Phương pháp dùng thuốc: Việc dùng thuốc cũng là một trong những phương pháp điều trị nhược thị. Hiệu quả phục hồi ổn định thị lực lâu dài của thuốc sau khi ngừng điều trị vẫn chưa rõ ràng.

Phương pháp kích thích thị giác CAM: Máy kích thích thị giác CAM được đưa vào sử dụng trong điều trị nhược thị từ năm 1978. Phương pháp này dựa trên kiến thức là các tế bào vỏ não đáp ứng với các đường sọc có hướng nhất định và với những tần số không gian nhất định. Tuy nhiên, ngày nay, phương pháp này hiếm được sử dụng.

Ðể phòng tránh bệnh nhược thị: vào những giai đoạn quan trọng, như khi mới sinh, 3 tuổi (khi bắt đầu có thể kiểm tra thị lực của trẻ), 6 tuổi (trước khi vào lớp 1) và sau 10 tuổi (khi trẻ chuẩn bị bước sang giai đoạn dậy thì), cũng nên cho trẻ đi khám để phát hiện những bệnh lý đặc trưng về mắt cho lứa tuổi đó. 


Phương pháp phục thị: Đây là phương pháp được áp dụng vào điều trị nhược thị tại Thụy Sỹ từ những năm 1970 và sau đó được phổ biến rộng rãi. Phục thị là phương pháp dùng chớp sáng mạnh để kích thích võng mạc nhằm tăng thị lực cho mắt bị nhược thị. Tuy nhiên, phương pháp này có thể gây ra song thị ở một mắt vĩnh viễn. Do đó, phương pháp phục thị không đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhược thị.

Phương pháp tập luyện bằng phần mềm điều trị nhược thị: Trên thế giới, có nhiều nước tự thiết kế phần mềm và điều trị theo phần mềm thiết kế như Australia, Nga, Singapore... Ưu  điểm của phương pháp này là quản lý và theo dõi được quá trình điều trị của bệnh nhân. Các phần mềm đều tích hợp phần quản lý bệnh nhân về hành chính, bệnh tật và tiền sử cũng như liệu pháp điều trị; có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi; các bài tập phong phú đa dạng, tạo cho trẻ hứng thú tham gia; có thể thiết kế bài tập riêng biệt để luyện tập từng chức năng thị giác. Tuy nhiên, trẻ phải ở độ tuổi nhất định và có khả năng sử dụng máy tính để được điều trị hiệu quả bằng phương pháp này.

Lời khuyên dành cho cha mẹ

Việc chẩn đoán sớm và điều trị đúng cách bệnh nhược thị rất quan trọng. Khi trẻ còn nhỏ, hiệu quả điều trị sẽ càng cao. Chính vì vậy, không nên đợi đến khi trẻ kêu nhìn mờ hay không nhìn rõ bảng mới đưa trẻ đi khám. Các bậc phụ huynh nên đưa con đi khám định kỳ để được chẩn đoán và điều trị dưới sự chỉ đạo và hướng dẫn của các y, bác sĩ nhãn khoa, các chuyên gia về mắt càng sớm càng tốt.

TS.BS. Nguyễn Thanh Vân(Phó Trưởng khoa Khúc xạ - Bệnh viện Mắt TW)

Nằm ngủ ở tư thế nào để cơ thể luôn khỏe khoắn?

Nếu bạn thức dậy với sự mệt mỏi, đau nhức hoặc tê ở cơ bắp của bạn, có nhiều khả năng bạn đã nằm sai tư thế khi ngủ. Tất nhiên, tùy mỗi người có một tư thế ngủ phù hợp cho riêng mình, nhưng có một vài điểm chung để làm căn cứ cho bạn hiểu biết thêm về các vị trí ngủ phổ biến nhất:

1. Ngủ theo tư thế nằm ngửa

Ưu điểm:

Ở vị trí này giúp cổ và lưng của bạn được thư giãn cơ bắp, hãy chọn nệm phù hợp để hỗ trợ thật tốt cho cột sống.

Nhược điểm:

Nhiều người ngủ nằm ngửa với tư thế hai bàn tay trên đầu, dẫn đến đau vai. Hãy cố gắng giữ cánh tay bên bạn để giảm căng thẳng trên vai, có lẽ ngủ với đầu càng gần đầu giường càng tốt để ngăn chặn việc để tay trên đầu của bạn. Bạn cũng có thể ngủ với một chiếc gối nhỏ hoặc một chiếc khăn cuộn lại dưới đầu gối để tránh bị đau ở thắt lưng.

Ngáy và ngưng thở khi ngủ thường xảy ra ở tư thế này hoặc có giấc ngủ không sâu. Ngừng thở khi ngủ có thể dẫn đến huyết áp cao, bệnh tim, buồn ngủ ban ngày, mệt mỏi và đau đầu. Các bác sĩ luôn lưu ý hiện tượng và tư thế ngủ này để nhắc nhở bệnh nhân như một trong những liệu pháp điều trị.

Ngủ theo tư thế nằm ngửa. Ngủ ở tư thế nghiêng. Hình: minh họa

2. Ngủ ở tư thế nghiêng

Ưu điểm:

Ngoài việc rất tốt cho việc giảm ngáy và ngưng thở khi ngủ, tư thế này còn là một trong những vị trí tốt nhất cho lưng của bạn. Các bác sĩ cũng cho rằng ngủ nghiêng về phía bên trái cải thiện lưu thông máu đến tim và có thể giảm bớt chứng ợ nóng và trào ngược axit.

Nhược điểm:

Tư thế ngủ nghiêng với một cánh tay ở vị trí trên cao có thể gây ra rất nhiều khó chịu ở vùng vai. Một số người ngủ ở tư thế nghiêng thường vòng tay ôm gối quanh đầu và sử dụng một chiếc gối dày dẫn đến đau vai và cổ.

Đầu tư vào một cái gối chất lượng là sự thay đổi kỳ diệu trong việc hỗ trợ vùng cổ đồng thời bạn có thể giảm bớt chứng đau lưng khi ngủ bằng cách đặt một chiếc gối nhỏ giữa hai đầu gối của bạn.

Ngủ ở tư thế nghiêng. Hình: minh họa

3. Tư thế ngủ nằm sấp

Ưu điểm:

Ngoài việc giúp giảm bớt ngáy và một số trường hợp ngưng thở khi ngủ, tư thế ngủ úp bụng có thể làm giảm đau bụng kinh, nhưng điều này là tất cả những gì được coi là tốt đẹp cho vùng bụng của bạn vào ban đêm.

Nhược điểm:

Vì không thể ngủ với tư thế úp mặt trực tiếp vào gối do không thể thở, đầu bạn bắt buộc phải quay về một bên trong khi ngủ sấp. Lúc này, cột sống của bạn bị vặn vẹo sang tư thế khác và ở một vị trí không tự nhiên, chính điều này dẫn đến đau, tê hoặc ngứa ran cột sống và chân tay. Tuy nhiên, hiện tượng thường gặp nhất đó là lực căng ở cổ có thể gây ra cảm giác đau cổ và đau lưng, khó chịu và ngủ không yên giấc.

Ngủ ở tư thế này cũng gây ra nếp nhăn và da chảy xệ. Các nghiên cứu về vị trí ngủ này chỉ ra rằng yếu tố góp phần vào sự hình thành và tiến triển của các nếp nhăn trên khuôn mặt và cổ là do ngủ nằm sấp. Nó còn là yếu tố khiến cho đôi mắt sưng húp khó coi và bọng mắt khi ngủ dậy.

Tư thế ngủ nằm sấp. Ngủ ở tư thế nghiêng. Hình: minh họa

Một số gợi ý

Một tấm nệm tốt đứng đầu danh sách những điều quan trọng để nhận được một giấc ngủ đêm tốt hơn. Việc tìm mua gối đúng cách cũng là điều cần thiết để từng bước thay đổi tư thế ngủ ban đêm. Điều này không chỉ giúp đầu được nghỉ ngơi mà còn hỗ trợ cổ và cột sống của bạn, đặc biệt là các sản phẩm gối định vị cho người mới phẫu thuật hoặc phụ nữ có thai.

Gối định vị giúp cơ thể của bạn được giữ ở vị trí thích hợp hơn theo đề nghị của bác sĩ. Chúng giúp giảm căng cơ cổ, vai, lưng, hông, đầu gối...

Mai Hương - Học viện Quân Y

(theo Natalie Gontar LifeStyle)

Không nên cho trẻ dưới 1 tuổi ăn mật ong

Bùi Thị Hảo (Bình Phước)

Mật ong luôn được coi là dược liệu quý, có tác dụng chữa bệnh, làm đẹp và bồi bổ cơ thể. Mật ong cũng đặc biệt tốt với trẻ nhỏ. Nó có thể hỗ trợ kháng viêm, kháng khuẩn; giảm đau rát, chữa nhanh lành vết bỏng; trị ho, cảm lạnh; làm lành vết thương; bổ sung enzym tiêu hóa; tăng sức đề kháng và hệ miễn dịch... Tuy nhiên, trong quá trình lấy mật có những con ong vô tình mang theo bào tử của vi khuẩn clostridium botulinum từ môi trường về tổ và nhiễm vào mật ong. Vi khuẩn này giải phóng ra độc tố botulism gây tê liệt cơ hô hấp và gây tử vong với hàm lượng nhỏ.

Người lớn nuốt phải bào tử clostridium botulinum hầu như không bao giờ bị bệnh bởi hệ tiêu hoá đã trưởng thành, đủ khả năng vô hiệu hoá chúng. Trong khi đó, ở trẻ dưới 12 tháng tuổi, hệ tiêu hoá còn chưa đủ các vi khuẩn hữu ích, chưa thể tiêu diệt bào tử, ngăn ngừa sự phát triển và sản sinh độc tố của chúng. Vì vậy, khi vào cơ thể trẻ bào tử có thể giải phóng vi khuẩn, sản sinh độc tố và gây ngộ độc. Do đó, không nên cho trẻ dưới 12 tháng tuổi ăn mật ong để đề phòng ngộ độc do clostridium botulinum gây ra.

Bác sĩ Minh Ngọc

Phát hiện và ngăn chặn thế nào?

Gần đây, tình trạng tự sát ở lứa tuổi học sinh ngày càng gia tăng. Những trường hợp tự sát thành công đã để lại hậu quả thương tâm cho gia đinh, bạn bè, người thân của các em. Vậy nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ đâu? Các bậc phụ huynh và nhà trường cần có những động thái gì để giúp các em vượt qua giai đoạn khủng hoảng tâm lý này?

Tuổi thiếu niên và những khó khăn để thích ứng với xã hội

Tuổi vị thành niên là một giai đoạn có sự thay đổi về thể chất, tâm sinh lý, xã hội với sự thay đổi về sự bài tiết các hormon dẫn đến sự thay đổi rất nhanh chóng về cảm xúc, có thể từ một trạng thái ức chế chuyển sang hưng phấn chỉ trong thời gian rất ngắn. Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi mà kinh nghiệm ứng phó với những sự kiện stress trong cuộc sống còn rất kém và chính sự thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống này dẫn đến những hành vi có tính chất xung đột hoặc có những quyết định mang tính chất bột phát, thiếu suy nghĩ.

Phát hiện và ngăn chặn thế nào? 1
Trẻ vị thành niên có nhiều thay đổi về các đặc điểm tâm, sinh lý.

Đối với những trẻ được cho là mạnh mẽ cũng thường xuyên lo lắng rằng mình không thể làm được việc tốt như mong muốn, ví dụ như trong việc giao tiếp, kết bạn hoặc trong các hoạt động nhóm ở trường hoặc đạt điểm tốt trong kỳ thi… Những hành vi tiêu cực thường dễ xảy ra trong những tình huống như là bố mẹ ly dị, những xung đột trong gia đình hoặc chia tay bạn thân hoặc người yêu hoặc những vấn đề rắc rối ở trường có thể làm bùng phát sự buồn chán và cảm giác muốn tự tử, đặc biệt với những trẻ có bệnh trầm cảm nặng thì những ý nghĩ và hành vi tự sát thường hay xảy ra, đây là nguyên nhân chính gây tự sát.

Một em học sinh vì mất tiền quỹ lớp đã viết thư để lại trước khi tự sát, một em học sinh sau khi thi môn tiếng Anh được điểm không cao, mà trước đó em học giỏi tiếng Anh và kỳ vọng vào đội tuyển thành phố đã cắt mạch máu ở tay, khi thấy máu chảy nhiều đã gọi điện cho bạn đến giúp đỡ và sau đó được gia đình đưa đi viện cấp cứu. Và có em học sinh đã được cứu thoát sau khi có hành vi uống thuốc để tự tử đã viết nhật ký như sau: “Tôi thấy là mình không khác gì so với các bạn khác nhưng không ai muốn chơi với tôi, tôi sợ cảm giác đến trường học, tôi sợ khi về nhà và sợ chính bản thân mình, vì vậy, tôi bắt đầu kế hoạch để thực hiện cái chết. Tôi đã lấy thuốc trong tủ thuốc của mẹ, tích lũy chúng lại và một hôm mẹ la mắng tôi, thế là tôi đã uống chúng…”.

Khoảng cách giữa ý định tự sát và hành vi tự sát chỉ là một ranh giới rất mong manh và vì vậy việc phát hiện sớm để phòng tự sát có vai trò rất quan trọng.

Những trẻ có yếu tố làm tăng nguy cơ tự sát

Có những vấn đề về sức khỏe tâm thần: đặc biệt là trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, sử dụng rượu hoặc những chất kích thích, những trẻ có sự thay đổi lớn trong cuộc sống hằng ngày ví dụ bố mẹ ly dị, có sự suy sụp về tài chính trong gia đình, xa bố mẹ, gia đình có mâu thuẫn…, tỉ lệ nhóm này chiếm tới 95% các trường hợp tự sát. Tiền sử gia đình có người tự sát hoặc trầm cảm. Những trẻ có tiền sử bị lạm dụng về thể chất hoặc bị lạm dụng về tình dục. Những trẻ không có sự nâng đỡ của xã hội, không được sự chăm sóc của cha mẹ, người thân, bạn bè, cảm thấy cô đơn.

Những trẻ nghĩ đến việc tự sát thường có biểu hiện sau: Nói về ý định tự sát hoặc nói chung về cái chết. Nói những lời ám chỉ rằng mình sẽ không còn tồn tại trên đời này nữa. Nói về cảm giác bi quan, không còn hy vọng hoặc cảm thấy có tội. Tránh xa gia đình và bạn bè. Viết những bức thư nói về cái chết, sự chia lìa hoặc sự mất mát. Cho đi những đồ vật mà mình thích. Không còn hứng thú tham gia vào những hoạt động mà trẻ vốn thích. Gặp phải khó khăn trong việc tập trung hoặc trong tư duy, không còn được rành mạch. Có sự thay đổi trong ăn uống và thói quen khi ngủ. Không thích đến trường học, không thích chơi thể thao.

Trầm cảm là một nguyên nhân chính dẫn đến tự sát ở lứa tuổi thiếu niên, những trẻ trầm cảm thường có những biểu hiện sau: buồn chán, thể hiện sự mất hết hy vọng. Những trẻ bị trầm cảm thường hay gặp phải những vấn đề phức tạp ở trường học như không tập trung chú ý, đạt điểm kém, trẻ có thể biểu hiện bỏ nhà đi, sử dụng các chất gây nghiện, dùng rượu hoặc nghiện chơi điện tử, thậm chí có thể có những hành vi mang tính chất bạo lực, kích động.

Phát hiện và ngăn chặn thế nào? 2
Cần động viên, giúp đỡ trẻ khi trẻ có những bất thường về tâm lý. (Ảnh minh họa).

Cha mẹ cần phải làm gì để giúp đỡ trẻ?

Bố mẹ cần phải có mối quan hệ thân thiết, gần gũi với trẻ, là một người bạn tâm sự của trẻ, có thể chia sẻ những chuyện buồn vui ở trường, ở lớp của trẻ.

Cần phải liên lạc, trao đổi thường xuyên với thầy cô, bạn bè của trẻ ở trường ở lớp để hiểu và nắm bắt được những gì đang xảy ra với trẻ.

Không nên coi thường những hành vi hủy hoại bản thân của trẻ, không nên nghĩ rằng những hành vi như cắt tay hoặc uống thuốc của trẻ chỉ nhằm mục đích gây sự chú ý của người khác vì nếu chúng ta bỏ qua hành vi lần này thì lần sau những hành động như vậy có thể xảy ra ở mức độ cao hơn.

Lắng nghe trẻ, khi trẻ tin tưởng bạn và tâm sự với bạn thì không nên coi thường những suy nghĩ của trẻ và nếu không tiện thì bạn có thể đưa trẻ đi tư vấn chuyên gia tâm lý hoặc khám bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Đưa trẻ đi khám bác sĩ khi thấy trẻ có những biểu hiện của trầm cảm và nên nhớ một điều là bệnh trầm cảm có thể chữa được.

Hướng dẫn trẻ biết cách xử lý trước những tình huống không đạt được như ý muốn của mình, trong cuộc sống ai cũng có lúc thất bại và mình cần phải vượt qua được những thất bại đó rút ra kinh nghiệm từ sự không thành công đó để bước tiếp trong cuộc sống, không nên bi quan, chán nản. Và sự nghiệp học tập là một cuộc chạy đua đường dài, cần phải có sự thích nghi và không nên nản chí khi kết quả chưa đạt được như mong muốn.

BS. TRỊNH THỊ BÍCH HUYỀN



Triệu chứng nghiêm trọng ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh

Dưới đây là những triệu chứng không thể bỏ qua ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh.

1. Sốt

Trẻ nhỏ không nên bị sốt trong 3 tháng đầu. Nếu bé bị sốt trên 39oC, bạn nên đưa trẻ đi khám ngay. Không chỉ vì bản thân sốt đã là nguy hiểm mà còn vì ở trẻ sơ sinh, sốt có thể là dấu hiệu duy nhất báo hiệu trẻ bị nhiễm khuẩn nghiêm trọng.

Khi trẻ qua 3 tháng tuổi, bạn có thể theo dõi một ngày trước khi đưa trẻ đi khám.

Nếu trẻ bị sốt kéo dài 24 giờ và không kèm theo các triệu chứng cảm lạnh thì cần được đánh giá. Theo dõi biểu hiện của trẻ để quyết định có đưa trẻ đi khám hay không.

Mức nhiệt khi sốt không phải là yếu tố quyết định, mà biểu hiện của trẻ mới quan trọng, cách trẻ phản ứng với bạn, cách trẻ nhìn bạn, mọi cử động hoạt động của chúng. Những đứa trẻ bình thường hiếu động, nay chỉ nằm trên giường rên rỉ, đó là sự thay đổi lớn về hành vi.

trieu chung, tre so sinh, sot la trieu chung khong the bo qua o tre so sinh

Sốt là một triệu chứng không thể bỏ qua ở trẻ sơ sinh

2. Vàng da

Trẻ sơ sinh thường bị vàng da, có thể biểu hiện là vàng da, vàng mắt. Tình trạng này xuất hiện khi gan của trẻ không hoạt động tốt, vì vậy không thể phân hủy bilirubin trong máu.

Trong phần lớn các trường hợp, vàng da là nhẹ và có thể tự biến mất. Các bác sĩ sẽ kiểm tra sức khỏe cho trẻ trước khi bạn mang trẻ về nhà từ bệnh viện và vài ngày sau lần kiểm tra đầu tiên. Ngoài ra, nếu bạn nhận thấy da trẻ có màu vàng, hãy đưa trẻ đi khám.

Trong một số trường hợp, ăn bổ sung giúp giảm vàng da. Trẻ cũng có thể cần tiếp xúc với ánh sáng đặc biệt để loại bỏ bilirubin trong máu.

3. Phát ban

Hầu hết các vết phát ban sẽ nhạt màu đi khi bạn ấn ngón tay lên chúng. Nếu trẻ có những đốm đỏ nhỏ trên ngực, lưng, cánh tay, cẳng chân mà không nhạt màu đi khi bạn ấn vào, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ ngay. Phát ban dạng này có thể là dấu hiệu của một bệnh lý nghiêm trọng như viêm màng não hoặc bệnh về mạch máu.

Ban đỏ không mờ xuất hiện trên mặt hoặc cổ của trẻ ít gây lo lắng nếu trẻ bị ho hoặc sốt nhưng dù sao bạn cũng nên đưa trẻ đi khám.

4. Nôn mửa hoặc tiêu chảy

Nếu trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ bị nôn hoặc tiêu chảy, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ sớm. Một dấu hiệu đáng báo động là trẻ không tiểu tiện vì như vậy là bé có thể bị mất nước.

Trẻ lớn tuổi có thể chịu được tình trạng tiêu chảy trong 1 ngày hoặc nhiều hơn nhưng trẻ sơ sinh có thể bị mất nước trong 12 giờ bị tiêu chảy nặng. Đưa trẻ đi khám ngay khi thấy nôn hoặc tiêu chảy có dấu hiệu lạ (có máu hoặc dịch mật khi nôn hoặc có máu hay chất nhầy trong phân).

5. Các vấn đề hơi thở

Trẻ gặp vấn đề về hơi thở thường hít, thở rất nhanh và rút lõm lồng ngực. Nếu bạn thấy trẻ bị rút lõm lồng ngực trong từng hơi thở, bạn cần đưa trẻ đi khám.

Nếu con bạn không thể ngừng ho, trẻ cũng cần đi khám vì đây là dấu hiệu trẻ bị bệnh hen hoặc hít phải vật lạ.

6. Đau đầu

Trẻ sơ sinh không thể cho bạn biết trẻ bị đau đầu nhưng trẻ nhỏ thì có thể.

Trẻ nhỏ có thể ôm đầu liên tục hoặc sử dụng những từ ngữ mô tả cơn đau. Đau đầu là tình trạng hiếm gặp ở trẻ nhỏ vì vậy chắc chắn cần phải tìm nguyên nhân. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng đau nửa đầu có thể liên quan đến đau bụng, nhưng có thể là do nguyên nhân khác như viêm xoang.

7. Khóc không ngừng

Nếu trẻ nhỏ hoặc trẻ sơ sinh khóc cả ngày và bạn không thể dỗ nín, hãy quan sát tìm hiểu những nguyên nhân bên ngoài như có sợi tóc quấn quanh ngón chân hoặc do rối loạn bên trong như có vấn đề về dạ dày.

BS Thu Vân/Univadis

(theo WebMD)

6 dấu hiệu tiết lộ nguy cơ bệnh tật

Hói đầu - Nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến cao hơn

Nghiên cứu mới công bố trên tạp chí Journal of Clinical Oncology cho thấy, nam giới hói đầu có thể liên quan đến tăng nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến (TLT). Cụ thể, những người đàn ông sớm có dấu hiệu hói đầu hay rụng tóc có thể gia tăng nguy cơ tử vong do ung thư TLT. Việc nghiên cứu được thực hiện trên 4.000 người đàn ông Mỹ trong độ tuổi từ 25 - 74 bị hói đầu từ vừa đến nặng. Kết quả cho thấy, những người đàn ông hói toàn bộ đầu tăng 56% nguy cơ tử vong do ung thư TLT trong khoảng thời gian 21 năm so với những người đàn ông không có dấu hiệu bị hói hay rụng tóc. Những người hói ở mức độ vừa phải nguy cơ mắc bệnh ung thư TLT cao hơn 83% so với những người không hói.

Nam giới bị hói đầu có nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến cao hơn người bình thường.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, có thể do lượng hormon nam như testosteron - là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của bệnh. Dihydrotestosterone (DHT) là một nội tiết tố nam được sản xuất từ testosteron bởi một enzym gọi là 5a reductase. DHT được tìm thấy trong nang lông có liên quan đến rụng tóc. Quá nhiều DHT trong TLT có thể gây ra tình trạng TLT bất thường.

Nam giới thấp bé có nguy cơ đau tim cao

Đây là kết quả rút ra của các nhà khoa học từ Quỹ Tim mạch Anh sau khi tiến hành nghiên cứu gần 200.000 nam giới. Nghiên cứu cho thấy, cứ tăng thêm 5.3cm chiều cao, cơ hội mắc bệnh mạch vành ở nam giảm 13,5%. Nguyên nhân lý giải cho chiều cao thấp bé chủ yếu đến từ chế độ ăn uống và lối sống. Chế độ ăn uống nghèo dinh dưỡng, hút thuốc lá thường xuyên ngăn cản lưu lượng máu trong động mạch, làm tích tụ mảng bám trong não và tim từ đó gây ra những cơn đau tim và đột quỵ.

Không nhìn vào mắt khi nói chuyện - Nguy cơ tự kỷ

Đó là phát hiện từ nghiên cứu kéo dài trong nhiều năm của các nhà khoa học ĐH Yale (Anh) được công bố trên tạp chí Biological Psychiatry. Trong nghiên cứu này, những đứa trẻ 6 tháng tuổi được xem một loạt video trình chiếu các khuôn mặt. Các nhà khoa học đã sử dụng công nghệ đánh dấu mắt để đánh dấu và vẽ lại chính xác những vị trí mà mắt các bé chú ý đến. Khi những đứa trẻ này lên 3 tuổi, chúng được đánh giá lại và chia thành các nhóm dựa trên chẩn đoán rối loạn tự kỷ, các hình thức chậm phát triển khác hoặc phát triển bình thường. Kết quả, trẻ mắc chứng tự kỷ không chỉ ít nhìn vào các khuôn mặt hơn trẻ khác mà khi được giới thiệu một khuôn mặt đang nói, chúng cũng không nhìn vào mắt và miệng của người đó.

Đỏ mặt gay gắt khi uống rượu dễ bị ung thư

Nhiều người mặt đỏ lên vì uống vài chén rượu, nhưng điều này cũng là dấu hiệu của nguy cơ ung thư thực quản. Theo Brooks, tác giả nghiên cứu thì nhờ có enzym trong gan, rượu sẽ được chuyển hóa từ hóa chất acetaldehyde mang tính độc hại - một dạng có thể gây ung thư sang chất acetate vô hại. Những người có phản ứng đỏ bừng mặt có sự thiếu hụt di truyền enzym chuyển hóa rượu ALDH2, có thể dẫn đến sự tích tụ các chất acetaldehyde độc hại. Đỏ mặt là do rượu làm cho mạch máu giãn nở, nhưng chính lúc đó có thể hóa chất độc hại đã tích tụ làm căng mạch máu. Ở một số người, do có hai bản sao của gen thiếu hụt này mà các triệu chứng trở nên nghiêm trọng khiến họ không thể chịu được một giọt rượu nào. Còn những ai chỉ có một bản sao của gen này thường học cách sống chung với tim đập nhanh và mặt đỏ bừng.

Ngáp nhiều - Dấu hiệu bệnh đa xơ cứng

Ngáp là hành động mà chúng ta không thể tự chủ được. Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giả thuyết về nguyên nhân gây ngáp. Nhưng ngáp nhiều cũng là dấu hiệu của một hoặc nhiều chứng bệnh như đa xơ cứng, bệnh thoái hóa các thần kinh vận động của cột sống, bị nhiễm phóng xạ, bệnh Parkinson... Ngáp ít hơn bình thường xảy ra trên những người bị chứng tâm thần phân liệt.

Nhóm máu cảnh báo nguy cơ ung thư tuyến tụy

Theo một nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Dược Harvard, những người có nhóm máu A, B hay AB có khả năng mắc ung thư tuyến tụy cao hơn 44% so với người có nhóm máu O. Điều này cho thấy, gen quyết định nhóm máu cũng mang theo nguy cơ của bệnh ung thư tuyến tụy.

Minh Huệ

((Theo Cracked))

Bệnh tay chân miệng: không nổi bóng nước sao bệnh vẫn nặng?

Nguyễn Phước T, 12 tháng, nhà ở xã Mỹ Hạnh Đông, Cai Lậy, Tiền Giang, bị bệnh một ngày, khởi đầu ói, sau đó đừ, thở  mệt nên gia đình đưa em vào bệnh viện liền (hôm 18/11). Bác sĩ khám thấy bé ngủ gà, thở nhanh nông, nhịp tim rất nhanh 198 lần/phút dù lúc đó bé đang nằm yên, huyết áp cao. Bé được chẩn đoán là bệnh tay chân miệng (TCM) độ 3, nên bác sĩ khẩn trương tiếp hơi cho bé, truyền thuốc vào tĩnh mạch, chuẩn bị máy thở…. Khi bé tạm ổn, các bác sĩ cố gắng tìm kiếm dấu hiệu bóng nước và loét miệng của cháu, nhưng tìm mãi vẫn không thấy, chỉ có một nốt ban màu hồng bé xíu ở kẽ ngón tay như vết ruồi son. Mẹ cháu cho biết là nó mới nổi lên, chứ hồi xưa đến giờ không có nốt đỏ nhu vậy. Nhờ nốt đỏ này (chuyên môn gọi là hồng ban) mà việc chẩn đoán bệnh tay chân miệng được thêm chắc chắn. Sau đó cháu được lấy phân, dịch họng để nuôi cấy tìm siêu vi trùng gây bệnh.

Bệnh tay chân miệng: không nổi bóng nước sao bệnh vẫn nặng? 1

Đây là một trường hợp bệnh TCM nặng cấp tính, bệnh diễn biến xấu nhanh chóng mà chưa kịp xuất hiện đầy đủ các triệu chứng như các bệnh TCM thông thường. Có lẽ do siêu vi gây bệnh khi vào hệ tiêu hóa, nó phát triển nhanh trong ống tiêu hóa, sau đó siêu vi vào máu, nó chưa kịp đi đến da và niêm mạc để gây nổi bóng nước, mà trực tiếp đi thẳng đến não, hành não, trung tâm điều hòa hô hấp, tim mạch, vừa gây tổn thương trực tiếp lên tế bào não, vừa gây nên chuỗi phản ứng miễn dịch của cơ thể khiến người bệnh bị viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp.

Thực tế cho thấy bệnh nhân bị Enterovirus 71 dễ gây biến chứng tối cấp, nguy hiểm  mà ít nổi bóng nước, trong khi coxsackievirus A16 lại có nhiều bóng nước hơn, nhưng lại diễn biến lành tính, ít gây biến chứng, tự khỏi sau 7 - 10 ngày.

Như vậy khi nào bà con thấy bé bị nổi bóng nước nhiều thì cũng đừng hốt hoảng, hoặc thấy nổi bóng nước ít mà chủ quan lơ là, hãy bình tĩnh đem đến cơ sở y tế khám, thực hiện việc theo dõi và chăm sóc con cháu mình theo đúng sự hướng dẫn của thầy thuốc.                                        

BS NGUYỄN THÀNH ÚC

“Thủ phạm” trong nhà gây tổn thương phổi

1. Dung dịch tẩy trắng Dung dịch tẩy trắng chứa clo hoặc amoniac được sử dụng để làm sạch sàn nhà, nhà tắm, v.v… có thể gây ảnh hưởng tới cá...